XÚC TIẾN HỢP TÁC DU LỊCH Y TẾ THẨM MỸ CAO CẤP” VIỆT NAM – NHẬT BẢN
Ý kiến bạn đọc
Phạm Thị Hoa
Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Email: [email protected]
Tóm tắt:
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế và thực hiện chủ trương “đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong các trường học”, cụ thể đối với bậc học đại học trong các cơ sở giáo dục đại học, việc nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh trong giáo dục đại học đã trở thành yêu cầu chiến lược quốc gia. Nghiên cứu này phân tích toàn diện thực trạng tổ chức dạy học tiếng Anh tại 92 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn 2022 - 2025, dựa trên dữ liệu khảo sát toàn quốc theo Công văn số 662/BGDĐT-GDDH ngày 19/02/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc báo cáo việc tổ chức dạy, học tiếng Anh và chuyển đổi số trong dạy, học tiếng Anh của các cơ sở giáo dục đại học và các trường cao đẳng sư phạm. Sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp kết hợp thống kê mô tả và phân tích so sánh, nghiên cứu chỉ ra những xu hướng phát triển đáng chú ý: số lượng chương trình tiếng Anh tăng cường tăng 191%, chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh tăng 123%. Số lượng các chương trình tiếng Anh tăng phản ánh nỗ lực mạnh mẽ trong quốc tế hóa giáo dục đại học. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập về quy mô đội ngũ, trình độ học vị, phương pháp triển khai và khả năng ứng dụng công nghệ, cũng như sự chênh lệch đáng kể giữa các khu vực về nguồn lực, cơ sở vật chất và đặc biệt là trình độ tiếng Anh đầu vào của sinh viên. Những khó khăn chủ yếu bao gồm trình độ tiếng Anh đầu vào không đồng đều , thiếu giảng viên chất lượng cao, hạn chế về kinh phí và cơ sở vật chất. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp cho từng nhóm đối tượng, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển năng lực ngoại ngữ trong giáo dục đại học Việt Nam.
Từ khóa: Dạy học tiếng Anh; Giáo dục đại học; Chương trình tiếng Anh tăng cường; Quốc tế hóa giáo dục; So sánh loại hình trường.
Nhận bài: 14/3/2026; Biên tập: 14/3/2026: Duyệt đăng: 15/3/2026
Nguyễn Anh Tuấn, Lý Ngọc Quang, Võ Ngọc Hương Thảo
Email: [email protected]
Tóm tắt
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục nghề nghiệp và thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị giáo dục, việc khai thác dữ liệu khảo sát từ các bên liên quan ngày càng trở thành công cụ quan trọng nhằm cải tiến chất lượng đào tạo. Bài báo phân tích thực trạng tổ chức và khai thác dữ liệu khảo sát tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore, tập trung vào các nhóm đối tượng gồm người học cuối khóa, cựu học sinh sinh viên sau tốt nghiệp, doanh nghiệp sử dụng lao động và đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, thống kê mô tả và phân tích tổng hợp dựa trên dữ liệu khảo sát từ 1.546 học sinh sinh viên, 1.169 cựu học sinh sinh viên, 82 nhà giáo và 22 cán bộ quản lý nhằm đánh giá quá trình thu thập, xử lý và sử dụng dữ liệu khảo sát trong quản trị chất lượng đào tạo.
Kết quả cho thấy tỷ lệ cựu học sinh sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp đạt khoảng 82%, trong khi mức độ hài lòng của người học đối với hoạt động đào tạo đạt trên 85%. Tuy nhiên, việc khai thác dữ liệu khảo sát hiện nay vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường chuyển đổi số trong công tác khảo sát, nâng cao năng lực phân tích dữ liệu và thiết lập cơ chế sử dụng dữ liệu trong chu trình cải tiến chất lượng đào tạo.
Từ khóa: Đảm bảo chất lượng; dữ liệu khảo sát; giáo dục nghề nghiệp; cải tiến chất lượng; quản trị dựa trên dữ liệu.
Nhận bài: 11/3/2026; Biên tập:11/3/2026; Duyệt đăng:12/3/2026.
Nguyễn Anh Tuấn, Lý Ngọc Quang, Võ Ngọc Hương Thảo
Email: [email protected]
Tóm tắt
Trong bối cảnh đổi mới giáo dục nghề nghiệp và thúc đẩy chuyển đổi số trong quản trị giáo dục, việc khai thác dữ liệu khảo sát từ các bên liên quan ngày càng trở thành công cụ quan trọng nhằm cải tiến chất lượng đào tạo. Bài báo phân tích thực trạng tổ chức và khai thác dữ liệu khảo sát tại Trường Cao đẳng nghề Việt Nam - Singapore, tập trung vào các nhóm đối tượng gồm người học cuối khóa, cựu học sinh sinh viên sau tốt nghiệp, doanh nghiệp sử dụng lao động và đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu, thống kê mô tả và phân tích tổng hợp dựa trên dữ liệu khảo sát từ 1.546 học sinh sinh viên, 1.169 cựu học sinh sinh viên, 82 nhà giáo và 22 cán bộ quản lý nhằm đánh giá quá trình thu thập, xử lý và sử dụng dữ liệu khảo sát trong quản trị chất lượng đào tạo.
Kết quả cho thấy tỷ lệ cựu học sinh sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp đạt khoảng 82%, trong khi mức độ hài lòng của người học đối với hoạt động đào tạo đạt trên 85%. Tuy nhiên, việc khai thác dữ liệu khảo sát hiện nay vẫn còn hạn chế. Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường chuyển đổi số trong công tác khảo sát, nâng cao năng lực phân tích dữ liệu và thiết lập cơ chế sử dụng dữ liệu trong chu trình cải tiến chất lượng đào tạo.
Từ khóa: Đảm bảo chất lượng; dữ liệu khảo sát; giáo dục nghề nghiệp; cải tiến chất lượng; quản trị dựa trên dữ liệu.
Nhận bài: 11/3/2026; Biên tập:11/3/2026; Duyệt đăng:12/3/2026.
TCGCVN - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, là ngày hội lớn của toàn dân, nơi mỗi cử tri thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của mình thông qua việc lựa chọn những đại biểu tiêu biểu đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân.
TCGCVN – Sau những ngày Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 sum vầy, ấm áp bên gia đình, mùa xuân lại tiếp tục hành trình quen thuộc của thầy và trò Trường THCS Lý Sơn và Trường THCS Nam Từ Liêm (Hà Nội) bằng những bước chân rộn ràng trở lại lớp học thân yêu. Không khí đầu năm mới lan tỏa sắc xuân tươi sáng, mở ra một chặng đường học tập mới với nhiều niềm tin, hy vọng và quyết tâm.
TCGCVN - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, là ngày hội lớn của toàn dân, nơi mỗi cử tri thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của mình thông qua việc lựa chọn những đại biểu tiêu biểu đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân.
TCGCVN – Mùa tuyển sinh đại học năm 2025 ghi nhận sự gia tăng đáng kể về số lượng thí sinh lựa chọn nhóm ngành STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học) ở nguyện vọng 1. Theo thống kê, đã có 222.454 thí sinh đăng ký, tăng 41.881 em so với năm 2024. Con số này phản ánh sự dịch chuyển rõ nét trong xu hướng lựa chọn ngành học của học sinh phổ thông, gắn liền với định hướng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo và các lĩnh vực công nghệ mũi nhọn của đất nước.
Hoàng Thị Nga - Khoa Ngoại ngữ Học viện Chính trị
Sẻng Sụ Ly Hăng Vông Thong - Hệ Quốc tế Học viện Chính trị
Email: [email protected]
Tóm tắt: Năng lực tự học là một trong những năng lực quan trọng quyết định chất lượng đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt đối với học viên quốc tế đang học tập tại các học viện quân đội của Việt Nam. Đối với học viên Hệ Quốc tế ở Học viện Chính trị, việc hình thành và phát triển năng lực tự học không chỉ giúp học viên nâng cao kết quả học tập mà còn góp phần hình thành năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ tương lai của quân đội các nước bạn. Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tự học của học viên Hệ Quốc tế ở Học viện Chính trị hiện nay, bao gồm các yếu tố chủ quan và khách quan. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ tác động của từng yếu tố đối với quá trình hình thành và phát triển năng lực tự học của học viên, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực tự học, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo tại Học viện Chính trị.
Từ khóa: năng lực tự học, học viên quốc tế, Học viện Chính trị, đào tạo quân sự, giáo dục đại học.
Phạm Thị Hoa
Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Email: [email protected]
Tóm tắt:
Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế và thực hiện chủ trương “đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong các trường học”, cụ thể đối với bậc học đại học trong các cơ sở giáo dục đại học, việc nâng cao chất lượng dạy học tiếng Anh trong giáo dục đại học đã trở thành yêu cầu chiến lược quốc gia. Nghiên cứu này phân tích toàn diện thực trạng tổ chức dạy học tiếng Anh tại 92 cơ sở giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn 2022 - 2025, dựa trên dữ liệu khảo sát toàn quốc theo Công văn số 662/BGDĐT-GDDH ngày 19/02/2025 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc báo cáo việc tổ chức dạy, học tiếng Anh và chuyển đổi số trong dạy, học tiếng Anh của các cơ sở giáo dục đại học và các trường cao đẳng sư phạm. Sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp kết hợp thống kê mô tả và phân tích so sánh, nghiên cứu chỉ ra những xu hướng phát triển đáng chú ý: số lượng chương trình tiếng Anh tăng cường tăng 191%, chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh tăng 123%. Số lượng các chương trình tiếng Anh tăng phản ánh nỗ lực mạnh mẽ trong quốc tế hóa giáo dục đại học. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập về quy mô đội ngũ, trình độ học vị, phương pháp triển khai và khả năng ứng dụng công nghệ, cũng như sự chênh lệch đáng kể giữa các khu vực về nguồn lực, cơ sở vật chất và đặc biệt là trình độ tiếng Anh đầu vào của sinh viên. Những khó khăn chủ yếu bao gồm trình độ tiếng Anh đầu vào không đồng đều , thiếu giảng viên chất lượng cao, hạn chế về kinh phí và cơ sở vật chất. Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp cho từng nhóm đối tượng, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển năng lực ngoại ngữ trong giáo dục đại học Việt Nam.
Từ khóa: Dạy học tiếng Anh; Giáo dục đại học; Chương trình tiếng Anh tăng cường; Quốc tế hóa giáo dục; So sánh loại hình trường.
Nhận bài: 14/3/2026; Biên tập: 14/3/2026: Duyệt đăng: 15/3/2026
TCGCVN – Sau những ngày Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 sum vầy, ấm áp bên gia đình, mùa xuân lại tiếp tục hành trình quen thuộc của thầy và trò Trường THCS Lý Sơn và Trường THCS Nam Từ Liêm (Hà Nội) bằng những bước chân rộn ràng trở lại lớp học thân yêu. Không khí đầu năm mới lan tỏa sắc xuân tươi sáng, mở ra một chặng đường học tập mới với nhiều niềm tin, hy vọng và quyết tâm.
TCGCVN - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, là ngày hội lớn của toàn dân, nơi mỗi cử tri thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của mình thông qua việc lựa chọn những đại biểu tiêu biểu đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân.
ThS. Đỗ Thiện Diệu, ThS. Nguyễn Trường Hải, Chu Xuân Đại Thắng
Hệ 5, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Email: [email protected]
Tóm tắt: Trong bối cảnh Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số quốc gia đang diễn ra mạnh mẽ, năng lực số trở thành một bộ phận quan trọng trong cấu trúc năng lực của nguồn nhân lực quân sự. Thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng trẻ, có khả năng tiếp cận nhanh với khoa học, công nghệ, trực tiếp tham gia học tập, huấn luyện, công tác, nghiên cứu khoa học và khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại. Vì vậy, phát triển năng lực số của thanh niên quân đội không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình chuyển đổi số trong toàn quân mà còn là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới. Bài viết làm rõ quan niệm phát triển năng lực số của thanh niên quân đội, phân tích những vấn đề đặt ra hiện nay và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển năng lực số của lực lượng này, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Từ khóa: năng lực số; phát triển năng lực số; thanh niên quân đội; chuyển đổi số; Quân đội nhân dân Việt Nam.
Nhận bài: 06/3/2026; Biên tập: 07/3/2026; Duyệt đăng: 09/3/2026.