1. Nghiên cứu & kinh nghiệm
HỘI THẢO “TRIẾT LÝ GIÁO DỤC TRONG THỜI ĐẠI SỐ”: ĐỊNH HÌNH TƯ DUY GIÁO DỤC MỚI CHO VIỆT NAM
TCGCVN - Văn phòng Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực vừa tổ chức Hội thảo khoa học “Triết lý giáo dục trong thời đại số”, quy tụ đông đảo nhà khoa học, chuyên gia và nhà quản lý uy tín trong cả nước. Kỷ yếu hội thảo tổng hợp 17 tham luận chuyên sâu, phản ánh những góc tiếp cận đa chiều về triết lý giáo dục Việt Nam trong bối cảnh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ.
TS. Lê Ngọc Triết – ThS. Võ Phú Hữu Đại học Cần Thơ Email: [email protected]   Tóm tắt: Trong mọi giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn nhất quán nhận định “nhân dân là gốc”, “đại đoàn kết toàn dân tộc” là đường lối chiến lược, nguồn sức mạnh và nhân tố quyết định thắng lợi. Bước vào thời kỳ kinh tế tri thức, chuyển đổi số và cạnh tranh gay gắt về nguồn nhân lực chất lượng cao, sức mạnh ấy ngày càng mang hình thái mới: sức mạnh đại đoàn kết được trí tuệ hóa, được tổ chức và phát huy thông qua một nền giáo dục hiện đại, nhân văn, mở và số hóa. Trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, các nghị quyết quan trọng của Đảng như Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo [1], Nghị quyết số 43-NQ/TW về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc [2], Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia [3], cùng Nghị định số 57/2017/NĐ-CP về chính sách giáo dục cho dân tộc thiểu số rất ít người [4], bài báo luận giải mối quan hệ biện chứng giữa sức mạnh nhân dân – đại đoàn kết toàn dân tộc và trí tuệ Việt Nam thông qua giáo dục, nhất là giáo dục lý luận chính trị trong kỷ nguyên số. Bài viết (i) làm rõ cơ sở lý luận về đại đoàn kết, sức mạnh nhân dân và trí tuệ Việt Nam; (ii) phân tích thực trạng phát huy sức mạnh đại đoàn kết thông qua giáo dục; (iii) chỉ ra những yêu cầu mới từ Nghị quyết 57-NQ/TW đối với giáo dục, đặc biệt là phát triển đội ngũ giảng viên lý luận chính trị; và (iv) đề xuất hệ thống định hướng, giải pháp phù hợp trong tình hình mới. Từ khóa: đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh nhân dân; trí tuệ Việt Nam; giáo dục; giáo dục lý luận chính trị; chuyển đổi số; Nghị quyết 29-NQ/TW; Nghị quyết 43-NQ/TW; Nghị quyết 57-NQ/TW; Nghị định 57/2017/NĐ-CP.
Lê Văn Thông - Trường Đại học Nguyễn Huệ Gmail: [email protected]   Tóm tắt: Mạng xã hội đang trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống sinh viên, mang lại cả cơ hội lẫn thách thức đối với học tập và hình thành tư duy nghiên cứu. Bài báo phân tích hai mặt tác động của mạng xã hội: mặt tích cực giúp sinh viên tiếp cận thông tin nhanh, trao đổi kiến thức và phát triển kỹ năng nghiên cứu; mặt tiêu cực có thể gây phân tán sự chú ý, lệ thuộc vào thông tin không chính thống, và giảm khả năng tư duy phản biện. Bài báo cũng đề xuất các biện pháp nhằm khai thác hiệu quả mạng xã hội trong học tập và nghiên cứu. Từ khóa: Mạng xã hội; sinh viên; học tập; tư duy nghiên cứu; tác động hai mặt.
Tác giả: Doãn Thị Thanh Phương Đơn vị công tác: Trường Mầm non Hoa Hồng; phường Nghĩa Đô, TP. Hà Nội.       TÓM TẮT Nghiên cứu tập trung phân tích việc vận dụng mô hình “Dân vận khéo” trong xây dựng không gian sáng tạo theo hướng mở tại các trường mầm non. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận kết hợp khảo sát thực tiễn tại một số cơ sở giáo dục, đề tài làm rõ hiệu quả của mô hình trong việc huy động nguồn lực xã hội hóa, tăng cường sự đồng thuận của phụ huynh, cộng đồng, và xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng “Dân vận khéo” không chỉ tạo ra không gian sáng tạo linh hoạt, an toàn và thân thiện, mà còn góp phần hình thành mô hình phát triển bền vững cho nhà trường trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Mô hình này được khẳng định là hướng đi phù hợp, có khả năng nhân rộng, đáp ứng yêu cầu về xây dựng môi trường giáo dục mầm non hiện đại theo xu thế chung của ngành. Từ khóa: Ứng dụng mô hình “Dân vận khéo”; sáng tạo linh hoạt; giáo dục mầm non; lấy trẻ làm trung tâm. Nhận bài: 11/12/2025; Biên tập 12/12/2025; Duyệt đăng: 12/12/2025.  
TCGCVN - Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 311/2025/NĐ-CP, sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 71/2020/NĐ-CP ngày 30/6/2020 quy định lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên mầm non, tiểu học và trung học cơ sở (THCS).
ThS. Trần Mộng Nghi - Trung tâm Giáo dục Quốc phòng An Ninh - Đại học Cần Thơ. Email: [email protected] ThS. Võ Phú Hữu – Khoa Khoa học Chính trị, Xã hội và Nhân văn – Đại học Cần Thơ. Email: [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số toàn diện, thế hệ trẻ Việt Nam vừa là lực lượng đi đầu trong sử dụng công nghệ, vừa là đối tượng trọng tâm của chiến lược giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống của Đảng và Nhà nước. Không gian mạng trở thành “không gian sống thứ hai” của thanh thiếu niên, nơi diễn ra mạnh mẽ các quá trình hình thành nhận thức, thái độ và hành vi chính trị – xã hội. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc giáo dục lý tưởng chính trị theo hướng gắn chặt với xây dựng “công dân số”, “công dân mạng” có trách nhiệm, tiến tới hình mẫu “công dân yêu nước số” – những người biết sử dụng năng lực số để phụng sự Tổ quốc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và lan tỏa giá trị văn hóa Việt Nam. Bài báo dựa trên khung lý luận về công dân số, giáo dục công dân trong kỷ nguyên số của UNESCO, Hội đồng châu Âu… kết hợp với các chương trình, đề án quốc gia như Quyết định 1501/QĐ-TTg, 1895/QĐ-TTg, 311/QĐ-TTg về giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và giáo dục trên không gian mạng để phân tích thực trạng và các vấn đề đặt ra đối với giáo dục lý tưởng chính trị cho thế hệ trẻ Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài báo đề xuất bốn nhóm giải pháp: (1) Định hình khung năng lực “công dân yêu nước số”; (2) Thiết kế lại nội dung giáo dục lý tưởng chính trị theo hướng “số hóa” và tích hợp; (3) Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục dựa trên công nghệ số và tham gia công dân trực tuyến; (4) Hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ sinh thái số cho giáo dục lý tưởng chính trị. Từ khóa: lý tưởng chính trị; công dân mạng; công dân số; công dân yêu nước số; giáo dục thanh niên.
ThS Bùi Văn Duy Khoa CTĐ, CTCT, Trường Sĩ quan Lục quân 1 Email tác giả: [email protected]       Tóm tắt: Bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin chuyển đổi số  (CNTT - CĐS) trong dạy học cho giảng viên trẻ Trường Sĩ quan Lục quân 1 là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức và thường xuyên của các cấp lãnh đạo, chỉ huy, cơ quan chức năng của Nhà trường, kết hợp với sự tích cực, chủ động tự học, tự rèn luyện của giảng viên trẻ, nhằm hình thành, củng cố và phát triển năng lực vận dụng sáng tạo, hiệu quả các tri thức, kỹ xảo, công cụ công nghệ thông tin chuyển đổi số vào quá trình dạy học quân sự. Từ khoá: Bồi dưỡng kỹ năng; ứng dụng công nghệ thông tin; chuyển đổi số; dạy học; giảng viên trẻ; Trường Sĩ quan Lục quân 1. Nhận bài: 9/12/2025; Duyệt 10/12/2025; Duyệt đăng: 10/12/2025.
ThS. Nguyễn Xuân Tiềm - Trường Đại học Nguyễn Huệ Email: [email protected]   Tóm tắt: Trong bối cảnh toàn quân đang đẩy mạnh công tác chuyển đổi số nhằm nâng cao sức mạnh, khả năng sẵn sàng chiến đấu với mục tiêu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh. Vì vậy, việc ứng dụng công nghệ số, các nền tảng số vào thực tiễn hoạt động thư viện là nhiệm vụ cấp thiết nhằm đổi mới toàn diện phương thức quản lý, khai thác và cung cấp dịch vụ thông tin mọi lúc, mọi nơi, đáp ứng nhu cầu của bạn đọc, hình thành văn hóa số và phát triển văn hóa đọc ở đơn vị cơ sở, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học của nhà trường trong tình hình mới. Từ khóa: Quân đội; Trường Sĩ quan; chuyển đổi số; thư viện; giảng viên; học viên
TCGCVN - Trong nhiều năm trở lại đây, thị trường thực phẩm ăn nhanh và đồ ăn vặt dành cho giới trẻ trở thành một phân khúc sôi động nhưng cũng đầy rủi ro. Những thông tin về hàng không rõ nguồn gốc, sản phẩm kém chất lượng, thực phẩm trôi nổi từ nhiều nơi len lỏi vào học đường đã nhiều lần trở thành lời cảnh tỉnh đối với các cơ quan quản lý và toàn xã hội. Trong bối cảnh ấy, sự xuất hiện và trưởng thành của thương hiệu “Ăn cùng Bà Tuyết” đem đến một câu chuyện tích cực hiếm hoi, câu chuyện về việc lấy sự tử tế làm nền tảng, lấy minh bạch làm giá trị cốt lõi và xây dựng niềm tin bằng những hành động trách nhiệm.
TS. Trần Văn Hiếu - ThS. Lê Thị Thuỳ Dương: Đại học Cần Thơ Email: [email protected]   Tóm tắt: Bài viết phân tích mối liên kết giữa phát triển kinh tế với công nghệ kỹ thuật số và đổi mới sáng tạo trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0. Công nghệ số như AI, IoT, Big Data và blockchain đang tạo ra các mô hình kinh doanh mới, nâng cao năng suất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Kinh nghiệm của các quốc gia như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Singapore cho thấy vai trò quan trọng của hạ tầng số hiện đại, khung pháp lý linh hoạt, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và sự dẫn dắt của chính phủ. Việt Nam đạt được những kết quả tích cực nhưng vẫn đối mặt hạn chế về hạ tầng, nhân lực, R&D và thể chế. Từ đó, bài viết đề xuất các bài học chiến lược nhằm đẩy mạnh kinh tế số, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn mới. Từ khóa: Kinh tế số, Đổi mới sáng tạo, Công nghệ số, Chuyển đổi số, Năng lực cạnh tranh
ThS. Nguyễn Công Chánh Khoa Xây dựng Đảng, Trường Chính trị tỉnh Gia Lai Email: [email protected] Tóm tắt Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo tập thể gắn với phát huy vai trò, trách nhiệm của mỗi cá nhân; qua đó hình thành sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn Đảng. Đây cũng là nguyên tắc mang giá trị giáo dục sâu sắc, góp phần rèn luyện cán bộ, đảng viên về phong cách làm việc khoa học, kỷ luật và tinh thần thảo luận dân chủ trong mọi quyết sách. Quy chế làm việc là công cụ cụ thể hóa nguyên tắc tập trung dân chủ, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác và chế độ làm việc của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị. Việc xây dựng và thực hiện quy chế làm việc không chỉ bảo đảm tính pháp lý, minh bạch mà còn có ý nghĩa giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, nâng cao tinh thần trách nhiệm và phương pháp làm việc chuẩn mực cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc luôn gắn bó chặt chẽ: quy chế làm việc giúp hiện thực hóa nguyên tắc trong thực tiễn, còn nguyên tắc tập trung dân chủ là nền tảng tư tưởng – chính trị để xây dựng, vận hành quy chế làm việc hiệu quả. Khi được triển khai đồng bộ, hai yếu tố này vừa bảo đảm hiệu quả lãnh đạo, điều hành, vừa góp phần giáo dục, hình thành môi trường làm việc kỷ luật, kỷ cương và thống nhất trong tổ chức đảng và toàn hệ thống chính trị. Từ khóa: Nguyên tắc, tập trung, dân chủ, quy chế làm việc, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách; giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật Nhận bài: 7/12/2025; Biên tập: 8/12/2025; Duyệt đăng: 8/12/2025.
ThS. Ngô Quang Binh - Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục 1. Đặt vấn đề Ở Việt Nam, trong Chương trình giáo dục phổ thông năm 2006 đã được Bộ giáo dục chỉ đạo đưa nội dung giáo dục địa phương vào chương trình. Tuy nhiên, nội dung giáo dục địa phương còn đơn giản được lồng ghép vào các môn học khác. Chỉ có một số môn học có sự lồng ghép nội dung giáo dục địa phương dưới dạng tích hợp. Dạy học qua trải nghiệm thực tế là một xu hướng phổ biến ở các nhà trường phổ thông tại nhiều địa phương. Tuy nhiên, Chương trình giáo dục phổ thông 2006 chưa chú ý đến quan điểm phân cấp quản lý, chưa đề cập tường minh đến nội dung giáo dục địa phương. Do vậy, nội dung giáo dục địa phương trong nhiều môn học chưa đáp ứng đầy đủ, toàn diện các mục tiêu đã đề ra. Nội dung dạy học còn nặng về kiến thức và thiên về văn hóa, lịch sử, địa lý, môi trường. Tính đặc thù, vấn đề hướng nghiệp, kinh tế, thế mạnh của địa phương chưa được quan tâm. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã cố gắng khắc phục những hạn chế, bất cập đó. Nội dung GDĐP đã được thiết kế thành những chủ đề và có hướng dẫn tổ chức thực hiện tốt hơn rất nhiều. Tuy nhiên, nội dung GDĐP vừa mới đi vào thực hiện, nhiều địa phương đang còn lúng túng trong tổ chức thực hiện, lại bị tác động của việc bỏ cấp huyện, sáp nhập tỉnh nên trong thực tế đã gặp khó khăn lại càng khó khăn nhiều hơn. Nhiều nội dung địa phương trong các môn học còn trùng lặp hoặc các nội dung địa phương của các cơ sở biên soạn còn chồng chéo lẫn nhau và chồng chéo với chương trình giáo dục quốc gia. Ở một số môn học, nội dung địa phương còn nặng nề, hàn lâm, chưa phù hợp với tâm sinh lý lớp học, cấp học. Đặc biệt, quan điểm nội dung địa phương thiết kế theo mạch, độc lập trong từng môn học riêng lẻ hoặc các địa phương biên soạn một cách cứng nhắc đã ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của việc dạy học nội dung địa phương trong các nhà trường. Hình thức tổ chức, phương pháp dạy học chưa phong phú, đa dạng. Khâu biên soạn tài liệu giáo dục địa phương chưa được thống nhất, thiếu nguyên tắc và tiêu chí.
Tran Thi Hong Phuc Lecturer at the Inspection-Legal Department of Vietnam Aviation Academy, Ho Chi Minh City, Vietnam Email: [email protected] – Phone: 0902 953 718   Abstract: This study investigates the perceptions and practices of English for Specific Purposes (ESP) among 37 lecturers and 243 students in the Business Administration program at the Vietnam Aviation Academy. Employing a mixed-methods approachincluding surveys, interviews, observations, and document analysis, the research reveals that most participants demonstrate a clear understanding of the role of ESP in professional development. However, instructional practices remain limited, predominantly characterized by direct lecturing with minimal interaction and real-world application. Students face challenges with instructional materials, while many lecturers lack specialized training in ESP pedagogy. The study recommends programmatic improvements through content specialization, updated teaching resources, targeted faculty training, and enhanced experiential learning activities to elevate the quality of ESP instruction in higher education Keys: English for Specific Purposes (ESP), lecturers' and students' perceptions, ESP teaching and learning practices,Business Administration
Ths Nguyễn Thành Chung Trường Đại học Nguyễn Huệ Gmail: thanhchunglq219903@gmail. com   Tóm tắt Học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các nhà trường quân đội chính là đội ngũ sĩ quan tương lai, là lực lượng cán bộ kế thừa của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là lực lượng đông đảo, chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số học viên đang theo học ở các cơ sở đào tạo trong toàn quân. Nhằm bảo đảm sau khi tốt nghiệp, học viên luôn có bản lĩnh vững vàng, tư duy khoa học, linh hoạt và sáng tạo trong xử lý các tình huống thực tiễn cũng như trong hoạt động quân sự, quá trình đào tạo cần tập trung bồi dưỡng và phát triển năng lực tư duy một cách hệ thống. Việc phát triển năng lực tư duy không chỉ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ sĩ quan trẻ mà còn là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng nhiệm vụ xây dựng Quân đội hiện đại trong giai đoạn mới. Từ khóa: Phát triển năng lực tư duy; học viên đào tạo sĩ; nhà trường Quân đội; nâng cao chất lượng đội ngũ sĩ quan trẻ. Nhận bài: 5/12/2025; Biên tập 6/12/2025; Duyệt đăng: 6/12/2025
  ThS. Hạ Thị Phượng Giảng viên Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh Email: [email protected]   Tóm tắt: Đội ngũ học viên trung cấp lý luận chính trị vốn là những cán bộ, công chức đang công tác trong các lĩnh vực của hệ thống chính trị và nhiều cơ quan khác. Bởi vậy, họ thường có xu hướng tiếp thu tốt hơn khi kiến thức được trình bày một cách sinh động, dễ hiểu và gắn liền với công việc hàng ngày của bản thân. Môn quản lý hành chính nhà nước vốn có tính thực tiễn và khả năng ứng dụng cao. Vì vậy, quá trình giảng dạy càng đòi hỏi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực tiễn. Thay vì chỉ truyền đạt kiến thức lý luận, giảng viên có thể sử dụng các hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ, video clip hoặc thậm chí là các tình huống mô phỏng để minh họa các khái niệm, quy trình, nguyên tắc trong quản lý hành chính. Bản chất của quá trình đó chính là sử dụng phương pháp trực quan trong giảng dạy. Bài viết tập trung phân tích và đưa ra một số khuyến nghị nhằm áp dụng hiệu quả phương pháp trực quan trong môn học quản lý hành chính nhà nước. Từ khóa: phương pháp trực quan, giảng dạy, môn học quản lý hành chính nhà nước, chương trình trung cấp lý luận chính trị Nhận bài: 3/12/2025; Biên tập: 4/12/2025; Duyệt bài: 5/12/2025
ThS Võ Nguyễn Đoan Trinh - Trường Đại học Thủ Dầu Một Email: [email protected] PGS. TS Trần Đình Tuấn – Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục   Tóm tắt: Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam, giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, nhằm hình thành nhân cách, lối sống và giá trị xã hội tích cực. Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục lớn của cả nước – đang triển khai nhiều mô hình đổi mới quản lý giáo dục đạo đức, trong đó quan điểm “giáo dục qua trải nghiệm” được xem là hướng tiếp cận hiệu quả. Bài viết phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn của quản lý giáo dục đạo đức theo quan điểm trải nghiệm, đánh giá thực trạng tại các trường phổ thông trên địa bàn thành phố, và đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức học sinh trong giai đoạn hiện nay. Từ khóa: Quản lý giáo dục; giáo dục đạo đức; trải nghiệm; học sinh phổ thông; Thành phố Hồ Chí Minh.
ThS. Đỗ Thanh Sơn Phòng Chính trị, HVCT, BQP   Tóm tắt: Nguyên tắc tự phê bình và phê bình có vai trò rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Trong mọi hoàn cảnh, chúng ta phải kiên định thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình bắt đầu từ việc nhận thức đúng đắn quan niệm mác xít về nguyên tắc này và thực hiện các yêu cầu cụ thể, thiết thực để làm cho Đảng ta đoàn kết, thống nhất, vững mạnh và tiến bộ. Từ khóa: Tự phê binh và phê bình, yêu cầu kiên định thực hiện.
TCGCVN - ngày 3/12/2025, UBND xã Đan Phượng đã tổ chức Liên hoan Tài năng nhạc cụ học sinh phổ thông lần thứ I, năm học 2025 - 2026 tại trường mầm non xã Đan Phượng, Hà Nội.
TCGCVN - Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vừa ban hành Văn bản số 7907/BGDĐT-GDPT ngày 02/12/2025 gửi Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố về việc triển khai Kết luận 221-KL/TW ngày 28/11/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tình hình, kết quả hoạt động của bộ máy hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp.
ThS. Hạ Thị Phượng Giảng viên Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh Email: [email protected]     Tóm tắt: Thi vấn đáp là hình thức kiểm tra kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học thông qua việc giảng viên đặt câu hỏi và người học trực tiếp trả lời bằng lời nói. Các câu hỏi chính thông thường sẽ được sắp xếp để người học lựa chọn một cách ngẫu nhiên (thông qua hoạt động bốc đề thi), tuy nhiên bên cạnh đó cũng sẽ phát sinh những câu hỏi phụ liên quan để kiểm tra một cách toàn diện hơn về kiến thức môn học. Đây là một hình thức thi khá hiện đại và ngày càng trở nên phổ biến trong các cơ sở giáo dục, đào tạo, trong đó có các trường Chính trị tỉnh, thành phố. Bài viết tập trung phân tích vai trò, ưu điểm; đánh giá thực trạng, khó khăn trong quá trình thực hiện và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi vấn đáp các môn lý luận Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong chương trình trung cấp lý luận chính trị. Từ khoá: Thi vấn đáp; các môn lý luận Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chương trình trung cấp lý luận chính trị Ngày nhận bài: 2/12/2025; Biên tập: 2/12/2025; Duyệt đăng: 3/12/2025.
TCGCVN -  Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vừa ban hành Quyết định số 3298/QĐ-BGDĐT phê duyệt Đề án tổ chức Hội khỏe Phù Đổng (HKPĐ) toàn quốc lần thứ XI năm 2028.
TCGCVN - Bộ GD&ĐT vừa ban hành Thông tư số 24/2025/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kĩ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông, ban hành kèm theo Thông tư số 06/2024/TT-BGDĐT ngày 10/4/2024.
PGS.TS. Tô Bá Trượng - Viện Nghiênc cứu hợp tác phát triển giáo dục   Đặt vấn đề Đổi mới giáo dục hướng nghiệp và phân luồng học sinh phổ thông trong kỷ nguyên số: Nhận thức đúng – Tổ chức thực chất – Hiệu quả bền vững là một chủ đề có ý nghĩa thiết thực và cấp bách trong thời đại số. Trong nhiều năm công tác, được làm việc với giáo viên, phụ huynh và đặc biệt là học sinh ở nhiều vùng miền, tôi nhận thấy một thực tế việc định hướng nghề nghiệp, con đường tương lai của học sinh, thường được quyết định trong tình trạng thiếu dữ liệu, thiếu sự chuẩn bị và chịu ảnh hưởng mạnh của tâm lý xã hội. Trong bối cảnh nền kinh tế số đang phát triển với tốc độ chưa từng có, chuyển đổi số lan rộng trong mọi lĩnh vực, việc đổi mới mạnh mẽ giáo dục hướng nghiệp và phân luồng không còn dừng lại ở yêu cầu chuyên môn, mà đã trở thành nhiệm vụ cấp bách để đáp ứng sự phát triển của quốc gia. Tôi xin phép được trình bày bài viết này với ba nội dung lớn: Bối cảnh, thách thức; nhìn nhận lại những hạn chế; và đề xuất giải pháp đổi mới một cách căn cơ, bền vững.
Võ Phú Hữu; Đinh Thị Chinh - Khoa Khoa học Chính trị, Xã hội và Nhân văn – Đại học Cần Thơ. Email: [email protected]; [email protected]   Tóm tắt : Triết học ứng dụng trong giáo dục không chỉ là bổ sung một môn học mới, mà là cách thức để hiểu, triển khai và phát huy vai trò của triết học trong tiến trình đổi mới giáo dục ở Việt Nam. Trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, triết học ứng dụng giúp hệ thống giáo dục: (1) định hình rõ mục tiêu phát triển con người Việt Nam – vừa giữ bản sắc dân tộc, vừa có năng lực hội nhập; (2) xác lập hệ giá trị cốt lõi cho nhà trường và người học; (3) cung cấp công cụ tư duy để phân tích, đánh giá và xử lí các vấn đề của giáo dục; (4) tạo cơ sở lý luận liên ngành cho thiết kế chương trình, đổi mới phương pháp dạy học, xây dựng chính sách và quản trị nhà trường. Để những tiềm năng đó trở thành hiện thực, cần thực hiện các giải pháp đồng bộ từ cấp vĩ mô đến vi mô: xây dựng chiến lược phát triển triết học ứng dụng trong giáo dục; đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy triết học gắn với thực tiễn; phát triển đội ngũ giảng viên, chuyên gia liên ngành; khuyến khích nghiên cứu, đối thoại về triết học ứng dụng; kiến tạo môi trường học đường như một “không gian triết học sống động”, nơi giá trị, tư duy và hành động được kết nối. Nếu được đặt đúng vị trí và tổ chức khoa học, triết học ứng dụng sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và tham gia vào quá trình kiến tạo một xã hội nhân văn, công bằng, dân chủ – mục tiêu lâu dài mà giáo dục Việt Nam hướng tới. Từ khóa: triết học ứng dụng, giáo dục Việt Nam, tư duy phản biện, phương pháp luận, liên ngành, triết học Mác – Lênin.
ThS. Hoàng Thị Thủy - Khoa Ngoại ngữ Du lịch, Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Email: [email protected] Tóm tắt : Năng lực giao tiếp tiếng Anh đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sinh viên ngành Hướng dẫn Du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế và nhu cầu ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, nhiều sinh viên trình độ cao đẳng vẫn gặp khó khăn trong việc vận dụng kiến thức ngôn ngữ vào các tình huống nghề nghiệp thực tiễn. Nghiên cứu này khảo sát hiệu quả của phương pháp dạy học theo nhiệm vụ (Task-Based Language Teaching – TBLT) trong phát triển kỹ năng giao tiếp tiếng Anh cho sinh viên năm nhất ngành hướng dẫn Du lịch tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp được sử dụng, bao gồm bài kiểm tra trước – sau, quan sát lớp học, khảo sát bằng bảng hỏi và phỏng vấn bán cấu trúc với 60 sinh viên. Kết quả cho thấy TBLT giúp cải thiện rõ rệt độ lưu loát, độ chính xác và khả năng tương tác so với phương pháp giảng dạy truyền thống. Sinh viên đồng thời thể hiện mức độ hứng thú và tự tin cao hơn khi tham gia các nhiệm vụ mang tính mô phỏng nghề nghiệp. Nghiên cứu đề xuất tăng cường áp dụng TBLT một cách hệ thống trong chương trình Tiếng Anh Du lịch nhằm nâng cao năng lực nghề nghiệp và khả năng đáp ứng yêu cầu thị trường lao động của sinh viên. Từ khóa: dạy học theo nhiệm vụ; giao tiếp tiếng Anh; tiếng Anh du lịch; phương pháp giảng dạy; giáo dục nghề nghiệp
TCGCVN. Thời gian vừa qua, Trường Tiểu học Tương Giang phối hợp với Trạm Y tế Tương Giang,  Phường Tam Sơn, Tỉnh Bắc Ninh tổ chức tiêm vắc xin phòng bệnh bạch hầu và uốn ván cho học sinh 7 tuổi thuộc khối 2, nằm trong khuôn khổ Chương trình Tiêm chủng mở rộng Quốc gia.
Bùi Trần Công - Viện Nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục   Tóm tắt: Bài viết này tập trung phân tích thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động trong nhà trường đến tổ chức thực hiện nội dung giáo dục địa phương. Trong đó, chú trọng làm rõ vai trò của Ban Giám hiệu, đội ngũ giáo viên, các điều kiện đảm bảo, đặc điểm học sinh từng vùng, miền, từng cấp học và các yếu tố nội tại khác có liên quan, từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc triển khai GDĐP trong thời gian tới. Từ khóa: mức độ ảnh hưởng, các yếu tố tác động, nội dung giáo dục địa phương, nhà trường phổ thông
An Bình Nguyên Tóm tắt: Đảng càng văn minh, nhân văn, càng phải lấy văn hóa làm nền tảng. Khi ta nói văn hóa làm nền tảng cho công việc xây dựng Đảng tức là chủ yếu nói đến văn hóa trong chính trị, trong nhân cách của cán bộ, đảng viên. Bài viết phân tích Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa Đảng và việc phát huy vai trò nêu gương trong sinh hoạt Đảng của đảng viên hiện nay. Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh; Văn hóa Đảng; Vai trò nêu gương của đảng viên.
TCGCVN – Sáng ngày 27/11/2025, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hà Tĩnh đã khai giảng khóa đào tạo nâng cao năng lực số dành cho cán bộ phụ trách chuyển đổi số cấp xã năm 2025, hướng tới mục tiêu “Mỗi xã/phường là một điểm sáng số”. Đây là hoạt động trọng tâm nhằm củng cố nguồn nhân lực tuyến cơ sở lực lượng trực tiếp hiện thực hóa chuyển đổi số trong đời sống người dân.
Nguyễn Thanh Sơn - Trường Đại học Trưng Vương Email: [email protected]  Phạm Thị Hoa - Vụ giáo dục đại học Email: [email protected] Hoàng Mộng Long - Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học TP. HCM Email: [email protected] Tóm tắt: Bài viết này phân tích những thách thức và thực trạng trong công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên tại các trường đại học tư thục (ĐHTT) Việt Nam. Với nguồn lực tài chính hạn chế, các trường ĐHTT gặp nhiều khó khăn trong việc thu hút, giữ chân và tạo điều kiện phát triển cho giảng viên. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp, kết hợp khảo sát định lượng với phỏng vấn sâu các nhà quản lý, giảng viên chủ chốt. Kết quả cho thấy các yếu tố về đãi ngộ tài chính, môi trường làm việc học thuật, cơ hội phát triển chuyên môn và sự công nhận đóng vai trò quan trọng trong quyết định làm việc của giảng viên. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một khung mô hình quản trị nhân sự toàn diện phù hợp với đặc thù và khả năng của các trường ĐHTT Việt Nam.
ThS. Lê Thanh Trường - Viện nghiên cứu hợp tác phát triển giáo dục Tóm tắt: Bài viết này đi sâu nghiên cứu và phân tích các mô hình giáo dục giá trị văn hóa học đường nổi bật tại một số quốc gia Châu Á (ví dụ: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore), đặc biệt trong bối cảnh chịu tác động của quá trình chuyển đổi số. Nghiên cứu tập trung làm rõ cách các quốc gia này tích hợp công nghệ số (AI, nền tảng học tập trực tuyến, mạng xã hội) vào việc củng cố các giá trị truyền thống, đạo đức, và các chuẩn mực hành vi văn hóa học đường. Từ đó, bài viết đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu trong cách tiếp cận của từng mô hình, và rút ra các bài học kinh nghiệm thiết thực. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số khuyến nghị chính sách và giải pháp cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của văn hóa học đường gắn với tiến trình chuyển đổi số trong các cấp học (mầm non, phổ thông, đại học, giáo dục nghề nghiệp). Từ khóa: Văn hóa học đường, Chuyển đổi số, Giáo dục giá trị, Mô hình Châu Á, Chính sách giáo dục.
NGƯT.TS. Ninh Văn Bình - Giảng viên chính Trường ĐH Trà Vinh Email: [email protected] Tóm tắt: Phát triển văn hoá học đường trong bối cảnh chuyến đổi số giáo dục phổ thông hiện nay không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước trong thời đại mới. Bài viết trình bày khái quát về đặc trưng văn hóa nhà trường và chuyển đổi số trong giáo dục, đồng thời đề xuất một số giải pháp thực hiện xây dựng văn hoá trường học trong bối cảnh hiện nay. Từ khóa: Giải pháp, phát triển văn hoá học đường, chuyển đổi số, giáo dục phổ thông
TS. NGUT Nguyễn Phú Tuấn - Viện Nghiên cứu Hợp tác Phát triển Giáo dục   Tóm tắt: Thực hiện Nghị quyết số 29/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng kỳ họp thứ 8 khóa XI, Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) đã xây dựng chương trình giáo dục phổ thông 2018. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã quán triệt định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông theo định hướng của Đảng, Nhà nước. Nội dung giáo dục địa phương là một điểm mới có tính chất đột phá của chương trình giáo dục 2018. Các đơn vị, các sở giáo dục đang hưởng ứng và tích cực thực hiện. Nội dung giáo dục địa phương đang được dư luận cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh và dư luận xã hội đồng tình và có những phản ứng tích cực. Bài viết này khái quát một số về việc thực hiện nội dung giáo dục địa phương. Từ khóa: Giáo dục địa phương, giáo dục tình yêu quê hương đất nước, giáo dục phổ thông
TCGCVN - Ngày 24/11/2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính về tình hình thiệt hại do mưa lũ tại các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, đồng thời triển khai nhiều biện pháp nhằm hỗ trợ kịp thời, giúp ngành Giáo dục sớm ổn định trở lại.
PGS.TS. Phạm Viết Vượng - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Tóm tắt: Bạo lực học đường đang là một vấn đề nhức nhối, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của học sinh, làm suy giảm chất lượng giáo dục và niềm tin xã hội đối với nhà trường. Bài viết này phân tích thực trạng, nguyên nhân, tác động của bạo lực học đường; đồng thời đề xuất các giải pháp giáo dục phòng chống bạo lực học đường, hướng đến xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, góp phần hình thành nhân cách, lối sống tích cực cho thế hệ trẻ trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế hiện nay. Từ khóa: bạo lực học đường, giáo dục phòng chống, môi trường giáo dục, an toàn – lành mạnh, văn hóa học đường.